top of page

Lịch sử ông tổ nghề Kim Hoàn Việt Nam

Updated: Mar 2, 2023

Qua bao nhiêu biến động thăng trầm của lịch sử, hàng trăm bảo vật của triều Nguyễn như: ấn vàng, kiếm vàng, sách vàng, đồ ngự dụng bằng vàng vẫn còn được bảo quản, gìn giữ khá nguyên vẹn tại các bảo tàng, di tích. Đây là những bảo vật vô giá của dân tộc Việt Nam, không những chứa đựng các giá trị văn hóa, lịch sử, nghệ thuật đặc sắc mà còn phản ánh tài nghệ khéo léo, tinh tế của các bậc thầy nghệ nhân kim hoàn cung đình xưa.


Theo sử sách lưu lại, người có công khai sáng nghề kim hoàn Việt Nam là hai vị tổ sư họ Cao là Cao Đình Độ và Cao Đình Hương. Hàng năm, những người thợ kim hoàn lấy ngày 7/2 âm lịch (ngày giỗ của ông Cao Đình Hương, người trực tiếp truyền nghề rộng rãi trong dân gian) làm ngày giỗ Tổ nghề Kim Hoàn.


Sắc phong Tổ sư nghề Kim hoàn Việt Nam
Sắc phong Tổ sư nghề Kim hoàn Việt Nam

Cuộc đời và hành trạng tổ nghề kim hoàn


Vị Đệ nhất tổ sư Cao Đình Độ sinh năm Giáp Thìn (1744), tại làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở thiếu thời ông rất ham học và được truyền thụ nền giáo dục Nho giáo. Lớn lên ông làm nghề bịt đồng (tức là hàn khay gãy, bịt chén bể…).


Vào thời đó, các chúa Nguyễn nắm trong tay được nhiều mỏ vàng, đặc biệt là mỏ Bồng Miêu ở tỉnh Quảng Nam. Nhờ thế mà đồ trang sức trong phủ chúa đều làm bằng vàng.


Nhưng nghề kim hoàn ở nước ta chỉ mới phôi thai, dân ta chưa có ai thành thạo nghề này. Các vật dụng quý, đồ trang sức của vua chúa hay quan lại đều phải thuê thợ kim hoàn người Trung Hoa chế tác. Những người thợ này, hoặc theo thuyền buôn sang thông thương, hoặc xin trú ngụ để hành nghề. Họ giấu nghề rất kỹ, không cho người địa phương biết để giữ độc quyền hành nghề.


Chúa Nguyễn Phúc Khoát nhận ra sự thiệt thòi của nền thủ công mỹ nghệ nước nhà, thường rất băn khoăn nên đã ra lệnh cho quan lại tìm cách hợp tác sản xuất, kinh doanh nhưng đều không có kết quả.


Trong hoàn cảnh đó, với niềm đam mê lớn trong người thợ trẻ Cao Đình Độ muốn trở thành một người thợ kim hoàn xuất sắc, ngày đêm luôn thôi thúc ông lên đường “tầm sư học đạo”. Để học được nghề kim hoàn, ông phải dành nhiều thời gian học tiếng Hoa, theo dõi lối sinh hoạt, giao thiệp của họ, cải trang thành người Hoa xin vào giúp việc cho một chủ tiệm vàng ở Thăng Long - Hà Nội. Bởi thời kỳ này chỉ có người Hoa mới nắm được cách chế tác và độc quyền sản xuất, buôn bán vàng bạc trong cả nước.


Với vốn Nho học phong phú cộng thêm tính hiếu học và lòng trung thực của ông khiến chủ tiệm kim hoàn người Hoa cảm động, quý mến và truyền nghề cho ông. Mặc dù, người Hoa có tiếng là giữ nghề, không truyền cho người ngoài, nhưng với tư chất thông minh, lanh lợi sẵn có, cộng với đôi bàn tay khéo léo và sự cần cù, sáng tạo nên ông quan sát tìm hiểu và nắm bắt được bí quyết nghề kim hoàn của người Hoa.


Với ý chí phải học cho thành tài, ông học cả cách chế tạo dụng cụ cần thiết của nghề chạm trổ vàng bạc và không từ chối bất cứ việc gì chủ sai bảo. Công sức của ông đã được đền đáp xứng đáng, tay nghề ông ngày càng thành thạo và đạt trình độ kỹ thuật tinh xảo, đủ sức tranh tài với những thợ kim hoàn người Hoa khác tại đất Thăng Long thời bấy giờ.


Năm Quý Mão (1783), quân Trịnh chiếm đóng Phú Xuân, đường vào Thuận Hóa thông thương nên ông đã cùng vợ con men theo bờ biển vào nam và dừng chân lập nghiệp tại làng Kế Môn (nay thuộc xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế). Tại đây, ông đã truyền nghề cho con trai mình là Cao Đình Hương.


Thừa hưởng đức tính thông minh của cha, Cao Đình Hương tiếp thu nghề kim hoàn một cách nhanh chóng và trở thành một người thợ thành thục trong nghề kim hoàn tại Thuận Hóa.


Dưới thời nhà Tây Sơn, vua Quang Trung cũng là người quan tâm đến nền thủ công nghiệp nước nhà, đã lập ra ngành Ngân Tượng và danh tiếng ông Cao Đình Độ được lan truyền đến triều đình.


Năm 1790, vua Quang Trung triệu hai cha con ông cùng một số thợ bạc ở làng Kế Môn vào triều để lập đội Cơ vệ Ngân tượng, nơi chuyên nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ vàng bạc và đồ trang sức cung đình.


Trước công đức và những đóng góp lớn lao đó, ông được triều đình phong chức Lãnh binh, phó Lãnh binh là Cao Đình Hương. Thời gian này, gia đình ông sống tại làng Cao Hậu (thường gọi là Côi Hậu), huyện Hương Trà (nay là phường Hương Sơ, thành phố Huế).


Đến khi Nguyễn Ánh chiếm lại đất Thuận Hóa - Phú Xuân, lập nên vương triều Nguyễn, lấy niên hiệu Gia Long vào năm 1802, hai cha con ông Cao Đình Độ và Cao Đình Hương cũng như nhóm thợ làng Kế Môn vẫn được vua Gia Long trọng dụng, cấp bổng lộc và giữ nguyên tước cũ để tiếp tục bảo tồn và phát triển nghề kim hoàn trong Kinh thành. Hai ông vẫn được tiến cử giữ chức vụ này chứng tỏ là người có tài và đức hạnh nên được các đời vua và triều đình tin dùng. Các sản phẩm từ vàng bạc như trâm cài, hoa tai, vòng xuyến, nhẫn… được sử dụng ở Kinh thành Phú xuân chủ yếu được tạo tác bởi những người thợ kim hoàn làng Kế Môn.


Vào ngày 27 tháng 2 năm Canh Ngọ (28/2/1810), ông Cao Đình Độ qua đời, hưởng thọ 66 tuổi, được nhà vua và triều đình truy phong tước hiệu: “Đệ nhất tổ sư” và ban đất xây lăng mộ như các quan đại thần tại ấp Trường Cởi (nay là phường Trường An, thành phố Huế).


Mặc dù còn được kế tục sự nghiệp quản lý của cha trong triều với chức quan Lãnh binh, nhưng bằng cách nhìn nhạy bén của người trong nghề, Cao Đình Hương nhìn thấy hoài bão của cha mình sẽ bị mai một theo thời gian, không những thế, nghề kim hoàn sẽ bị thất truyền nếu ông chỉ tập trung phục vụ trong cung vua. Vì thế, ông Cao Đình Hương quyết định từ quan về quê để tìm người nối nghiệp gia đình.


Quan Thượng thư bộ lại ở Thuận Hóa lúc bấy giờ là Trần Minh cùng vợ là Huynh Thị Ngọc đã mời ông về phủ dạy nghề cho 3 người con là Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền và 3 người cháu là Huynh Quang, Huynh Bảo, Huynh Nhật.


Ngày 7 tháng 2 Âm lịch (8/2/1821), ông Cao Đình Hương qua đời, hưởng thọ 48 tuổi, được vua Minh Mạng phong tước hiệu: “Đệ nhị tổ sư”, phần mộ được an táng bên cạnh mộ phần tổ phụ tại ấp Trường Cởi. Trước khi mất, tâm huyết sau cùng của ông là mong muốn học trò của mình đem nghề kim hoàn truyền bá rộng khắp trong dân gian.


Theo di chúc của thầy, ba anh em Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điền ngược ra Thăng Long - Hà Nội mở lò thu nhận đệ tử.


Ba anh em họ Huynh lại xuôi vào Nam. Đến Phan Thiết, do một người bị qua đời, hai người còn lại dừng chân luôn tại đây để mở lò dạy nghề. Do đó, thợ kim hoàn ở Phan Thiết xem ba anh em họ Huynh là tổ sư nghề kim hoàn.


Ở miền Nam, nghề kim hoàn lúc ấy vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Từ Thăng Long, anh em họ Trần bắt đầu cuộc hành trình xuôi vào Phương Nam. “Đất lành chim đậu”, điểm dừng chân của họ là Gia Định - Chợ Lớn, nơi có thương cảng sầm uất, hội tụ thương hồ từ các tỉnh lân cận, kể từ Cao Miên (Campuchia), Xiêm La (Thái Lan), đến buôn bán náo nhiệt.


Ba ông chọn địa điểm cách Chợ Lớn khoảng một dặm (cảng Bình Đông ngày nay) mở lò thợ bạc tại đây lại có điều kiện phát triển rộng khắp. Sau khi truyền nghề cho 36 lò thợ bạc ở Chợ Lớn, anh em họ Trần lại tiếp tục hành trình đến các tỉnh miền Tây, ngược qua Campuchia, Thái Lan… rồi qua đời ở đâu không ai biết.


Gần 100 năm sau khi hai ngài Cao Đình Độ và Cao Đình Hương qua đời, đến triều Khải Định thứ 9 (năm 1924), nhân dịp lễ Tứ Tuần Đại Khánh Tiết, xét hai ngài có nhiều công lao trong việc truyền bá nghề kim hoàn nên vua Khải Định hạ chiếu sắc phong: “Dực bảo Trung Hưng Linh Phò chi thần” vào ngày 25 tháng 7 năm 1924.


Hiện nay, tại từ đường họ Kim Hoàn tọa lạc số 7 chùa Ông, phường Phú Cát, thành phố Huế còn lưu giữ một số bản sắc phong của các vua triều Nguyễn cho hai vị tổ nghề.


Sắc phong vua Khải Định phong tặng:

Nguyên văn:

敕承天府香茶縣弟六坊金環局奉事金環開藝高廷度高廷香大 郎稔著靈應肆金正值朕四旬大慶節經寳詔覃恩禮隆登秩著封 為翊保中興靈扶之神準其奉事用誌國慶而申祀典欽哉

啟定玖年柒月貳拾五日


Phiên âm:

Sắc Thừa Thiên phủ, Hương Trà huyện, Đệ Lục phường, Kim hoàn cục. Phụng sự Kim hoàn khai nghệ, Cao Đình Độ, Cao Đình Hương đại lang. Nẫm trứ linh ứng tứ kim chính trực Trẫm Tứ Tuần Đại Khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Trứ phong vi Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò chi thần. Chuẩn kỳ phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển. Khâm tai!

Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.


Dịch nghĩa:

Sắc cho Cục Kim hoàn, phường Đệ Lục, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên phụng thờ hai vị khai sáng nghề Kim hoàn là Cao Đình Độ và Cao Đình Hương. Linh ứng đã lâu, nay gặp dịp Tứ Tuần Đại Khánh của Trẫm đã bảo chiếu ra ân huệ rộng rãi, lễ lớn nên phong tặng Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò chi thần. Chuẩn cho phụng thờ và dùng để ghi nhớ ngày mừng của nước mà tỏ rõ phép tắc thờ tự. Kính thay!

Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (tức Ngày 25 tháng 8 năm 1924)


Đến đời vua Bảo Đại thứ 13 (năm 1938), hai ông tiếp tục được sắc phong cho người có công khai sáng ngành Kim hoàn Việt Nam và khu lăng mộ được kiến tạo, trùng tu đạt giá trị nghệ thuật cao.


Hiện nay, tại từ đường họ Kim Hoàn tọa lạc số 7 chùa Ông, phường Phú Cát, thành phố Huế còn lưu giữ một số bản sắc phong của các vua triều Nguyễn cho hai vị tổ nghề.


Nếu như tiền tổ họ Cao có công khai sáng nghề Kim Hoàn, thì họ Trần và Huỳnh chính là những người có công phổ biến nghề Kim Hoàn trên khắp đất nước, suốt từ Bắc vào Nam. Họ được người trong nghề tôn vinh là tổ sư đời thứ Hai của ngành kim hoàn Việt Nam. Để tưởng nhớ công lao to lớn của hai vị Tổ nghiệp, hằng năm, các thợ kim hoàn miền Trung - Huế tổ chức lễ giỗ tổ Ông Cao Đình Độ vào ngày 27-2 (âm lịch). Tại làng Định Công - Hà Nội, giỗ tổ sư họ Trần. Tại Phan Thiết giỗ tổ sư họ Huỳnh.


Dù ngày nay, nữ trang vàng bạc được sản xuất chủ yếu trên dây chuyền hiện đại, nhưng tổ thờ vẫn được coi trọng và tôn thờ.


Lễ tế tổ nghề kim hoàn


Các môn đệ nghề kim hoàn chọn ngày mất của ông Cao Đình Hương mà không lấy ngày mất ông Cao Đình Độ làm ngày giỗ tổ nghề là do lúc sinh thời, ông Cao Đình Độ do đảm nhận chức vụ của người thợ chính chuyên chế tác những đồ ngự dụng cho hoàng gia triều Nguyễn nên không có nhiều thời gian để truyền nghề cho hậu thế.


Còn ông Cao Đình Hương sau này, bên cạnh việc chuyên lo chế tác đồ ngự dụng trong cung đình, ông còn dành nhiều thời gian truyền dạy nghề kim hoàn ra ngoài dân gian. Vì vậy, các lớp đệ tử về sau chỉ biết đến người thầy dạy trực tiếp nên đã lấy ngày giỗ của ông làm ngày giỗ tổ nghề kim hoàn.


Hằng năm, lễ tế tổ nghề kim hoàn Việt Nam vào ngày 7/2 Âm lịch được xem là ngày hội của những người sản xuất, kinh doanh vàng bạc trong khắp cả nước. Lễ giỗ tổ nghề kim hoàn được tổ chức rất qui mô, quy tụ hàng trăm người trong ngành thợ kim hoàn, không chỉ riêng ở Huế mà từ các tỉnh thành trong cả nước cũng về dự, cúng bái các vị tổ sư có công khai sáng, truyền dạy nghề kim hoàn.


Lễ tế tổ nghề kim hoàn là một hoạt động tâm linh đặc trưng, khá quy mô, thu hút nhiều người thợ kim hoàn và cả du khách thập phương tham gia, thể hiện sự phát triển của nghề kim hoàn không chỉ ở qui mô sản xuất mà còn ở những hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần, nghề nghiệp. Lễ hội này cũng phản ánh đặc trưng sự kết hợp giữa cầu quốc thái dân an và tế tổ nghề.


Có thể nói, qua những biến chuyển của thời đại, nghề kim hoàn không bị mai một mà còn được lưu giữ, truyền nghề và phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù ngày nay, vàng bạc, nữ trang được sản xuất trên dây chuyền hiện đại, các vị tổ nghề kim hoàn vẫn luôn được coi trọng, tôn thờ và những ngày giỗ tổ như thế này vẫn luôn được tiếp nối tổ chức trang trọng qua từng thế hệ con cháu ngành Kim hoàn Việt Nam.


Từ hai Cụ Tổ họ Cao, nghề Kim hoàn đã được lưu truyền, phát triển khắp ba miền đất Việt và một số nước trên thế giới từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngày nay, nghề kim hoàn trở thành một ngành nghề thủ công truyền thống được ưa chuộng, không chỉ vì giá trị kinh tế mà còn cả trình độ thẩm mỹ của những mặt hàng kim hoàn chứa đựng nhiều sắc thái Việt.


Khu lăng mộ của tổ nghề Kim hoàn Việt Nam trên đất Huế luôn được các đệ tử, con cháu gìn giữ hương khói và là nơi hành hương linh thiêng của những ai theo nghề kim hoàn để tri ân những bậc tiền nhân đã có công khai mở một nghề để lại danh thơm và hồn thiêng dân tộc.


Kiến trúc nghệ thuật lăng mộ tổ nghề kim hoàn ở Huế


Khu lăng mộ tổ nghề kim hoàn Việt Nam tọa lạc ở phường Trường An, thành phố Huế. Đến đường Phan Bội Châu rẽ vào một kiệt số 75 sẽ đến cổng lăng mộ tổ nghề kim hoàn.


Lăng mộ tổ nghề Kim hoàn ở Huế


Lăng Đệ Nhất tổ sư Cao Đình Độ xây dựng năm Canh Tuất 1810. Lăng Đệ Nhị tổ sư Cao Đình Hương xây dựng năm Tân Tỵ 1821. Hai lăng mộ tổ nghề kim hoàn được trùng tu lần thứ nhất vào năm Khải Định thứ 4 - 1919 do cụ Huỳnh Côn chủ trì với công đức đóng góp của toàn thể môn đệ Cục Kim hoàn.


Do ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt xứ Huế và chiến tranh tàn phá nên kiến trúc lăng mộ tổ nghề kim hoàn bị hư hỏng trầm trọng nên vào năm 1970, lăng mộ tổ nghề kim hoàn tiếp tục được đại trùng tu sửa chữa với quy mô kiến trúc khang trang, độc đáo do cụ Triệu Mân, Chủ tịch Nghiệp đoàn ngành Kim hoàn Trung - Cao Nguyên và Nam Phần chủ trì. Đây là sự hội tụ tinh hoa về nghệ thuật và đóng góp tài chính của toàn thể môn sinh ngành kim hoàn trong cả nước.


Điểm nhấn của kiến trúc lăng mộ tổ nghề kim hoàn là cổng lăng gồm bốn trụ biểu cao. Bờ giải mặt trước của hai trụ biểu chính giữa có đắp nổi hai vế đối bằng chữ Hán.


Ở lăng Đệ nhất Tổ sư Cao Đình Độ:

陵寢環灌異艸奇花鋪秀色

门墙外望青嵐碧洞表遐光


Phiên âm:

Lăng tẩm hoàn quán dị thảo kì hoa phô tú sắc,

Môn tường ngoại vọng thanh lam bích động biểu hà quang.


Tạm dịch:

Xung quanh lăng tẩm, hoa thơm cỏ lạ phô sắc đẹp,

Bên ngoài tường cổng non xanh động biếc.


Ở lăng Đệ nhị Tổ sư Cao Đình Hương:

仰之彌高柱桓綱常入孝出弟

屹耳卓立表暘功德近悅遠來


Phiên âm:

Ngưỡng chi di cao trụ hoàn cương thường nhập hiếu xuất để,

Ngật nhĩ trác lập biểu dương công đức cận duyệt viễn lai.


Tạm dịch:

Ngưỡng lên trông thấy càng cao, giữ vẫn cương thường, vào hiếu ra để,

Nghe danh càng trác tuyệt, công đức được biểu dương, gần vui, xa (thì) đến.


Mặt trước, bờ giải của hai cột trụ phía ngoài cùng có đắp nổi hai vế đối.


Lăng Đệ nhất Tổ sư Cao Đình Độ:

屏山香水風光勝

坤土兌金器宇高


Phiên âm:

Bình sơn hương thủy phong quang thắng,

Khôn thổ đoài kim khí vũ cao.


Tạm dịch:

Núi Ngự hương sắc, phong cảnh đẹp,

Khôn là thổ, đoài là kim, hiện chí khí cao.


Lăng Đệ nhị Tổ sư Cao Đình Hương:

龍朝虎伏南郊地

月嶺風清御嶺天


Phiên âm:

Long triều hổ phục Nam Giao địa,

Nguyệt lãnh phong thanh ngự lãnh thiên.


Tạm dịch:

Đất Nam Giao rồng chầu hổ phục,

Trời đỉnh Ngự gió mát trăng thanh.


Khu lăng mộ có bình đồ hình trái xoài dài 17.5m, rộng 11m, với chu vi khoảng 2.200m2. Phía bên trái (nhìn vào) là lăng mộ của Đệ Nhất tổ sư Cao Đình Độ, phía bên phải là Đệ Nhị tổ sư Cao Đình Hương. Hai ngôi mộ cách nhau 100m và được định hướng Đông, Tây, Nam, Bắc theo la bàn cổ.


Kiến trúc nghệ thuật hai lăng mộ tổ xây dựng tương đối giống nhau theo kiểu “nội công, ngoại quốc”, đây là kiến trúc văn hóa đặc trưng của triều Nguyễn. Về nghệ thuật trang trí, các nghệ nhân đã thổi vào những mảnh sành sứ, thủy tinh một sự sống động để họa tiết trang trí lăng mộ trở nên có hồn và tinh tế vô cùng. Lăng mộ của hai vị tổ nghề chia thành hai tầng.


Tầng thứ nhất có cửa tam quan bằng bốn trụ biểu. Bốn trụ biểu trang trí các câu đối, đôi trụ giữa có cặp rồng chầu vào lăng mộ, còn lại là trang trí các ô hộc hình cây lá được khảm sành sứ. Hai trụ biểu ngoài gắn liền với vòng thành lăng.


Tiếp theo, ở giữa tầng thứ hai có một bức bình phong cuốn thư. Trên bức bình phong có trang trí một con Kỳ Lân chở trên lưng các bức cổ đồ được tạo hình bằng phương pháp khảm sành sứ. Kỳ Lân là một trong 4 linh vật: long, lân, quy, phụng theo tín ngưỡng dân gian Á Đông. Xét về phong thủy, bức bình phong này che chắn cho ngôi mộ, chống lại tà khí, tai ương.


Bước qua năm bậc cấp ở hai bên bức bình phong, du khách sẽ lên tầng hai của lăng. Cửa được thiết kế bằng sáu cột trụ nhỏ. Bờ giải của sáu cột trụ nhỏ này đều có viết những câu đối thơ bằng chữ Hán ca ngợi công đức của hai ông và địa thế phong cảnh đẹp của ngôi mộ tọa lạc. Đối diện bức bình phong là bi đình khảm sành sứ tinh xảo. Hai tầng mái lợp bằng ngói ống trang trí hoa văn chữ Thọ, theo lối triện, gọi là “câu đầu trích thủy”, trụ tròn đối hoa sen, long vân nổi lượn quanh theo kiểu “long vân đồng trụ”. Tại bờ nóc có biểu tượng “lưỡng long chầu nguyệt” như các di tích kiến trúc triều Nguyễn khác tại Huế.


Tầng trên chính diện có hoành phi đắp nổi ba chữ Hán.


Lăng Đệ nhất Tổ sư Cao Đình Độ:

“天為寶 Thiên vi bảo” - Điều lành làm trọng


Lăng Đệ nhị Tổ sư Cao Đình Hương:

“德其盛 Đức kỳ thạnh” - Đức cao dày, thịnh vượng cho môn đệ hậu sinh.


Bên trong bi đình có một tấm bia. Mặt trước của bia khắc bằng chữ Hán.


Lăng đệ nhất Tổ sư Cao Đình Độ:

敕封翼保中興金環藝第一祖師高貴公神墓


Phiên âm:

Sắc phong Dực Bảo Trung Hưng Kim hoàn nghệ Đệ nhất Tổ sư cao quý công thần mộ.


Lăng Đệ nhị Tổ sư Cao Đình Hương:

敕封翼保中興金環藝第二世祖師高貴公神墓


Phiên âm:

Sắc phong Dực Bảo Trung Hưng Kim hoàn nghệ Đệ nhị thế Tổ sư cao quý công thần mộ.


Giới hạn tại phần đầu của lăng được xây cao vút lên làm nền cho hậu điện, gối đầu cho phần mộ. Phần mộ hình tròn có đường kính 4m, cao 1m, chu vi có 3 lớp cánh hoa sen cách điệu.


Trước điện có hương án xây kiểu chân quỳ, mặt bàn nổi và trong lòng sóng chỉ nổi và ống trấy. Mặt trước có chữ thọ đắp nổi, dơi chầu 4 góc tượng trưng cho Ngũ phúc: Phúc - Lộc - Thọ - Khang - Ninh.


Phía trong khám thờ có tấm bài vị khắc bằng chữ Hán:

金環祖師神位


Phiên âm:

Kim hoàn tổ sư thần vị


Hai bên khám thờ có viết hai vế đối bằng chữ Hán.


Lăng Đệ nhất Tổ sư Cao Đình Độ:

金環肇始三圻祖

玉寶開先千古師


Phiên âm:

Kim hoàn triệu thỉ tam kỳ tổ,

Ngọc bảo khai tiên thiên cổ sư.


Tạm dịch:

Sáng lập nghề kim hoàn, làm tổ sư ba miền,

Ngọc quý mở đầu, ngàn đời làm thầy.


Lăng Đệ nhị Tổ sư:

金環精巧三圻祖

玉傳訓傳百世師


Kim hoàn tinh xảo tam kì tổ,

Ngọc bảo huấn truyền bách thế sư.


Tạm dịch:

Nghề vàng tinh xảo, làm tổ ba miền,

Ngọc quý truyền dạy, trăm đời làm thầy.


Sau cùng là hậu điện: cao 4.5m, rộng 1.5m x 2.6m tám mái hai tầng lợp bằng ngói ống chữ thọ, cuối mái “câu đầu trích thủy” trụ tròn đối hoa sen có chức năng diềm mái và dùng để định hướng giọt nước mưa. Ngoài ra, hình ảnh long vân nổi lượn quanh, tại bờ nóc có lưỡng long chầu nguyệt, cuối các bờ giải có hai cặp long giao. Phía dưới có miếu lưu bia, bia gốc nguyên sơ dày sâu liền lõm vào tường thành mái cong lượn vòng thấp dần xuống làm nền cho hậu điện.


Lăng mộ hai vị tổ nghề kim hoàn được những người thợ kim hoàn lập nên để tôn vinh và nhớ ơn công lao của hai ông trong việc truyền bá nghề kim hoàn ở vùng đất Huế và lan tỏa khắp ba miền đất nước. Với giá trị văn hóa - lịch sử, kiến trúc nghệ thuật độc đáo, khu lăng mộ tổ nghề kim hoàn cùng với di tích từ đường Tộc Kim hoàn đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 168 - QĐ/VH ngày 2/3/1990.


Nhà thờ Tổ nghề Kim hoàn, số 71 đường Chùa Ông, thành phố Huế


Hội quán Lệ Châu: nhà thờ Tổ ngành kim hoàn ở Sài Gòn


Vào những năm cuối thế kỷ 19, tại Chợ Lớn và các vùng lân cận, nghề kim hoàn đã rất phát đạt. Để ghi nhớ ơn tổ và thầy, một số chủ lò kim hoàn, gồm các ông Nguyễn Tường Long, Võ Văn Tường, Huỳnh Văn Tiên, Trần Văn Lập, Cao Đình Huế, Thái Hồng Hưng đã đứng ra vận động, quyên góp từ các lò kim hoàn, các thợ bạc ở khắp nơi và mua được một khu đất rộng ở đường Thủy Binh (Rue des Marins, nay là đường Trần Hưng Đạo) gần nhà thờ Cha Tam. Nhà thờ tổ được khởi công vào năm 1892 đến năm 1896 thì hoàn thành.


Lệ Châu Hội Quán
Lệ Châu Hội Quán

Tính đến nay, ngôi thờ này đã trải qua bốn lần sửa sang, đó là vào các năm 1920, 1934, 1946, 1968. Lần sau cùng, nhà thờ được trung tu lớn: cất lại Nghĩa từ, sửa chữa lại chánh điện do chiến tranh gây hư hại... Đây là một trong những ngôi nhà được xây dựng sớm nhất tại Sài Gòn.


Trong sách Sài Gòn năm xưa, Vương Hồng Sển viết: "Đường Nguyễn Trãi đi một đoạn khỏi đường Tổng Đốc Phương gặp chùa Lệ Châu. Đây là "chùa tổ" thờ tổ sư của nhóm thợ và chủ lò kim hoàn. Sau những người Hoa kiều đồng nghề cũng nhập với đồng nghiệp Việt Nam nên mỗi năm cúng tổ long trọng và oai nghi lắm..." (NXB TP. HCM, 1991, tr. 207)


Khi mới cất xong (1892) công trình có tên tạm là Nhà thờ Tổ kim hoàn. Đến năm 1934, ngôi thờ được đại trùng tu (và tồn tại cho đến nay) bằng cột gỗ lim, mái ngói móc lợp theo kiểu âm dương, phía trước đền có bộ cửa sắt bao bọc, trên vòm cửa có thêm bốn chữ: Lệ Châu hội quán bằng đồng và dọc hai bên cửa sắt có câu đối:


"Lệ thủy kim sinh cơ quốc thái

Châu đê ngân xuất nghiệp dân an."


Giải nghĩa:

"Sông Lệ sinh vàng nên quốc thái

Bờ Châu ra bạc nghiệp dân an"


Về tên Lệ Châu, hiện có hai giả thuyết:


Thứ nhất, tên lấy từ câu:

"Kim trầm lệ thủy, Ngân xuất châu đê"


Giải nghĩa:

"Vàng chìm sông lệ, Bạc xuất bờ châu"


Do ngoài việc thờ tổ Cao Đình Độ và Cao Đình Hương, nơi này còn là nơi quy tụ thợ kim hoàn, thợ bạc, nên ngôi thờ được gọi Lệ Châu hội sở rồi đổi thành Lệ Châu hội quán.


Thứ hai, hội quán lập ra để nhớ ơn ba người họ Trần (ba anh em ruột và đều là học trò của ông Cao Đình Hương) là Trần Hòa, Trần Điện và Trần Điền đã vào vùng Sài Gòn - Chợ Lớn truyền dạy nghề kim hoàn. Sau một thời gian, các ông tiếp tục qua Nam Vang (Campuchia), Lào, Thái Lan tiếp tục việc truyền dạy rồi không trở về nữa. Vì vậy, các thợ bạc Chợ Lớn lấy tên Lệ Châu, với nghĩa là nước mắt để nói lên nỗi mất mát, thương nhớ những người thầy của mình.


Lệ Châu Hội Quán
Lệ Châu Hội Quán

Hội quán nằm trên một khu đất rộng 802m2, được xây dựng theo kết cấu ba gian dọc, với hai hàng cột chạy dài từ ngoài vào trong. Tường gạch tô, mái lợp ngói âm dương, trước có sân rộng khoảng 400m2.

Nơi chính điện có ba khám thờ, được trang trí bằng những bao lam chạm trổ rồng, phụng, hoa, điểu... sắc nét công phu.

Khám thờ lớn ở giữa có bài vị chạm hai chữ Tổ sư theo lối đại tự, thờ Đệ nhất Tổ sư Cao Đình Độ [Giáp Dần (1774) – Canh Ngọ (1810)] và Đệ nhị Tổ sư Cao Đình Hương [Quý Tỵ (1733) - Tân Tỵ (1821)].

Hai khám hai bên hơi nhỏ hơn, thờ các vị tổ đời thứ hai, truyền dạy nghề kim hoàn ở Phan Thiết, đó là ba anh em họ Huỳnh: Huỳnh Quang, Huỳnh Bảo, Huỳnh Nhật và thờ các vị tổ đời thứ hai, truyền dạy nghề kim hoàn ở Chợ Lớn đó là ba anh em họ Trần: Trần Hòa, Trần Điện và Trần Điền.

Toàn hội quán có 9 bức hoành phi và 6 cặp câu đối đều được sơn son thiếp vàng, mang nội dung nói lên lòng nhớ ơn tổ và ca ngợi sự phát triển, thịnh đạt của nghề thợ bạc, như câu:

"Bản thủy sơn tiên,

Nghệ truyền nguyên phái"


Điều đáng chú ý là các khám thờ, hoành phi, câu đối, bao lam... đều được sơn son thếp vàng. Nhờ loại giấy quì có tuổi vàng cao, cho nên dù đã trải qua nhiều năm tháng, đến nay tất cả vẫn còn bóng láng và rõ nét.


Ngoài ra, còn những hiện vật quí, như:

  • Trống lớn có chiều cao 1,10m, đường kính 0,60m, tang trống không phải bằng những mảnh gỗ ghép, mà là một khúc cây to khoét rỗng.

  • Chuông cao 1m, đường kính 0,50m, trên chuông để niên đại do thợ Hà Nội chế tác năm Ât Mùi (1895).

  • Bốn tấm bia đá đặt hai bên vách chánh điện, ghi rõ các năm tạo dựng: 1895, 1916, 1920. Trên bia khắc họ tên họ, nơi ở, số tiền đóng góp để xây dựng nhà thờ tổ. Nhờ những tấm bia này, mà ta được biết vào thời buổi ấy, nghề kim hoàn của người Việt và người Việt gốc Hoa đã có mặt ở nhiều nơi như: Tây Cống, Đề Ngạn, Trà Vinh, Bến Tre, Cần Thơ...

  • Một số bàn, bình phong chạm khắc tinh xảo, mô tả cảnh sơn thủy, do những người làm nghề thợ bạc dâng tặng. Năm 1998, Ban quản trị hội quán ra từ đường họ Kim Hoàn ở Huế rước hai bản sao sắc phong thần do vua Khải Định và vua Bảo Đại đã ban cho hai vị tổ.

Ngoài giá trị về kiến trúc và cổ vật, Lệ Châu hội quán còn thể hiện nhiều giá trị khác: Hội quán là nơi để những người theo nghề thợ bạc tỏ lòng biết ơn đối với người đã có công truyền dạy nghề. Là nơi hằng năm, vào 3 ngày lễ giỗ tổ (6-7-8 tháng 2 âm lịch) hàng ngàn người trong ngành kim hoàn ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh thuộc Nam Bộ đã đến để cúng bái và chia sẻ nghề nghiệp.


Là trụ sở của “Hội Lệ Cộng hòa tương tế ái hữu thợ bạc” ngay từ năm 1936, rồi là trụ sở bí mật của Nghiệp đoàn thợ bạc cứu quốc, là cơ sở của Ban kinh tài và là nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng. Do những giá trị trên, vào ngày 31 tháng 8 năm 1998, Lệ Châu hội quán đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia, theo quyết định số 1811/1998 - QĐ-BVHTT.


Sưu tầm

943 views0 comments

Yorumlar


bottom of page